Tổ chức công nhận là gì?
Đối với dịch vụ chứng nhận hiện nay, thông thường Khách hàng sẽ tiếp cận nhiều hơn với thuật ngữ “Tổ chức chứng nhận”. Đây chính là đơn vị trực tiếp cung cấp dịch vụ chứng nhận và phát hành chứng chỉ cho Khách hàng. Tuy nhiên, chứng chỉ chỉ có hiệu lực khi có sự xác nhận của một tổ chức công nhận. Sự xác nhận này được thể hiện thông qua “sự hiện diện” của con dấu trên chứng chỉ mà tổ chức chứng nhận đang sử dụng. Chính vì thế khi Khách hàng có nhu cầu cấp chứng chỉ cho một tiêu chuẩn cụ thể, câu hỏi thường gặp đối với các tổ chức chứng nhận là: “Công ty em dùng dấu của bên nào?” Theo quy định của pháp luật Việt Nam (Nghị định 107/2016/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 01 tháng 07 năm 2016), tổ chức công nhận là tổ chức thực hiện việc đánh giá, xác nhận năng lực của tổ chức đánh giá sự phù hợp có năng lực phù hợp với các yêu cầu quy định theo tiêu chuẩn tương ứng. Theo định nghĩa này, tổ chức công nhận được hiểu là một đơn vị công nhận năng lực của tổ chức chứng nhận và phạm vi đánh giá của tổ chức chứng nhận được ghi nhận khi đáp ứng các yêu cầu của tổ chức công nhận.
Các tổ chức công nhận phổ biến ở Việt Nam
Mỗi quốc gia có một hoặc một số tổ chức công nhận nhất định. Một số tổ chức công nhận được sử dụng dấu công nhận phổ biến ở Việt Nam như sau:
UKAS (United Kingdom Accreditation Service): Hiện UKAS là tổ chức công nhận chính thức duy nhất của Vương Quốc Anh. Website chính thức : https://www.ukas.com/accreditation/
IAS (International Accreditation Service): Đây là một trong những tổ chức công nhận của Mỹ. Website chính thức: https://www.iasonline.org/
BOA (Bureau of Accreditation): Đây là Văn phòng Công nhận chất lượng - Cơ quan công nhận quốc gia duy nhất do Chính phủ chỉ định. Website chính thức: http://www.boa.gov.vn/
Ngoài ra còn có rất nhiều tổ chức công nhận khác như ANAB (Mỹ), JAS-ANZ (Úc, New Zealand),… Các tổ chức công nhận trên đều là thành viên của IAF (International Accreditation Forum - Hiệp hội chứng nhận và giám định quốc tế).
IAF là một tổ chức phi chính phủ, ghi nhận việc một doanh nghiệp/tổ chức đã được cấp chứng nhận đánh giá sự phù hợp bởi một tổ chức chứng nhận nằm trong phạm vi của một tổ chức công nhận. Do đó, khi thông tin của Khách hàng được hiển thị trên hệ thống của IAF sẽ chỉ chứng minh được rằng tổ chức công nhận là thành viên của IAF.
Giá trị của các giấy chứng nhận
Hiện nay, xét về mặt quy định pháp luật, không có sự khác biệt về giá trị pháp lý của các chứng chỉ mang các dấu công nhận khác nhau, bởi đây là sự công nhận quốc gia về sự phù hợp của Khách hàng dựa trên các tiêu chí riêng biệt của từng tiêu chuẩn nhất định. Tuy nhiên, trên thực tế, các chứng chỉ sử dụng dấu công nhận khác nhau mang những giá trị rất khác nhau. Giá trị này có được dựa vào thực trạng của lĩnh vực đánh giá, phản ánh qua nhu cầu và phân khúc Khách hàng. Đơn cử nếu so sánh chứng chỉ mang dấu công nhận của UKAS và IAS sẽ có một số điểm khác biệt như sau: - Tổ chức chứng nhận được sử dụng dấu công nhận: Các tổ chức chứng nhận có phạm vi đánh giá do UKAS công nhận thường là những tổ chức lớn, có tiếng tăm trong “giới” chứng nhận. Vì vậy mà số lượng tổ chức chứng nhận có thể sử dụng dấu UKAS có thể “đếm trên đầu ngón tay”. Ngược lại với UKAS, IAS cho phép một số lượng đông đảo các tổ chức chứng nhận được sử dụng dấu của mình. So sánh ở khía cạnh này, có thể thấy IAS đang “dễ tính” hơn UKAS. - Đối tượng khách hàng: Khách hàng có nhu cầu sử dụng chứng chỉ mang dấu của UKAS chủ yếu là các doanh nghiệp có quy mô và phạm vi công ty lớn hơn nhiều so với khách hàng sử dụng chứng chỉ mang dấu IAS. - Yêu cầu từ đối tác: Phụ thuộc vào các thị trường khác nhau mà đối tác có thể đưa ra những yêu cầu khác nhau đối với việc sử dụng dấu của tổ chức công nhận nào. Ví dụ, đối với thị trường EU thường Khách hàng sẽ được yêu cầu phải đạt tiêu chuẩn sử dụng dấu UKAS.











