XANH HÓA NGÀNH DỆT MAY - XU HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP

Thời gian đọc: 9 phút

NHU CẦU XANH HÓA NGÀNH DỆT MAY

Ngành dệt may là một trong những ngành công nghiệp chủ lực của Việt Nam, giải quyết việc làm cho hơn 3 triệu lao động và đang có đà tăng trưởng tốt. Sản lượng dệt may toàn cầu gần như tăng gấp đôi từ năm 2000 đến năm 2015, tiêu thụ quần áo và dệt may dự kiến tăng 63% vào năm 2030, đạt mức 102 triệu tấn từ mức 62 triệu tấn hiện nay. Tuy nhiên, đây cũng là ngành nghề phát thải carbon cao, việc tăng trưởng này cũng đồng nghĩa với các vấn đề môi trường và phát triển bền vững bị đe dọa nghiêm trọng hơn. 

Sản xuất ngành dệt may, bao gồm cả trồng bông, sử dụng khoảng 93 tỉ m3 nước hàng năm và chiếm khoảng 4% lượng khai thác nước ngọt trên toàn thế giới, 20% ô nhiễm nước công nghiệp toàn cầu là phát sinh từ các hoạt động dệt nhuộm, một mắt xích quan trọng trong chuỗi dệt may. Theo một nghiên cứu tại EU, ngành dệt may đứng thứ tư trong các ngành có tác động tiêu cực đối với môi trường và biến đổi khí hậu, đứng thứ ba trong việc tiêu thụ nước và sử dụng đất. Tại EU, hằng năm có khoảng 5,8 triệu tấn sản phẩm cũ hàng may mặc thải loại ra môi trường, tương đương khoảng 11 kg/người dân. Sản xuất hàng dệt may cũng tiêu tốn năng lượng để vận hành nhiều loại thiết bị, tạo ra hơi và nhiệt cho các quy trình xử lý khác nhau. Tại Việt Nam, tính toán cho thấy, ngành dệt may chiếm khoảng 8% nhu cầu năng lượng của toàn bộ ngành công nghiệp và phát thải khoảng năm triệu tấn CO2 mỗi năm. Đồng thời, các quy trình xử lý ướt hàng dệt may (sợi, vải và hàng may) với các khâu giặt, giũ, tiền xử lý, nhuộm sử dụng lớn lượng nước và nhiều loại hóa chất, phải được xử lý khi thải ra môi trường. Do đó, vấn đề xanh hóa chuỗi sản xuất trong ngành dệt may đang là xu thế toàn cầu mà doanh nghiệp bắt buộc phải triển khai để đáp ứng đòi hỏi cụ thể của các nhà mua hàng và được hưởng ưu đãi thuế quan theo các hiệp định thương mại thế hệ mới đã có hiệu lực như EVFTA, CPTPP… Ông Trần Như Tùng, chủ tịch hội đồng quản trị công ty cổ phần Dệt may – Đầu tư – Thương mại Thành Công (Thanh Cong Textile) cho biết, yêu cầu về phát triển bền vững, trong đó có yếu tố về môi trường đã được các khách hàng yêu cầu từ lâu. Năm năm trở lại đây, mức độ thúc đẩy của họ ngày càng cao, nhất là các nhà mua hàng từ châu Âu, Mỹ. Đây là áp lực trực diện, tạo động lực để doanh nghiệp chuyển đổi.

ẢNH HƯỞNG CỦA CHỨNG NHẬN XANH ĐẾN KIM NGẠCH XUẤT KHẨU

Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam năm 2022 đạt 44,7 tỉ đô la Mỹ, tăng 10,6% so với cùng kỳ nhưng tốc độ tăng trưởng bắt đầu chậm lại vào những tháng cuối năm và kéo dài cho đến hiện tại. Việt Nam giữ vị trí thứ ba trong các quốc gia xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới, sau Trung Quốc (323 tỉ đô la Mỹ) và Bangladesh (45,7 tỉ đô la Mỹ). Điểm đặc biệt là kim ngạch xuất khẩu dệt may của Bangladesh năm 2022 tăng gần 26% so với năm 2021, đưa quốc gia này lấy lại vị trí thứ hai đã rơi vào tay Việt Nam trong năm 2021. Đặc biệt, trong giai đoạn từ giữa năm 2022 đến quý 1.2023, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Bangladesh tăng 14% ở thị trường châu Âu và 35% ở các thị trường không truyền thống khác, theo cục Xúc tiến xuất khẩu (EPB) của bộ Thương mại Bangladesh. Xuất khẩu dệt may Bangladesh có năm tháng tăng trưởng dương liên tiếp và chỉ mới giảm tốc từ tháng 3.2023. Tính chung quý 1.2023, kim ngạch xuất khẩu dệt may Bangladesh tăng hơn 6% so với cùng kỳ. Theo số liệu của Vitas, trong năm tháng đầu năm 2023, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam đạt 14,5 tỉ đô la Mỹ, giảm 21% so với cùng kỳ. Yếu tố lạc quan là hàng cao cấp chiếm tỉ trọng 85% và tăng trên 10% so với năm ngoái. Bức tranh tương phản giữa dệt may Bangladesh và Việt Nam đang đặt ra câu hỏi: tại sao đối thủ của ngành dệt may Việt Nam đang vươn lên mạnh mẽ dù chịu những tác động chung của kinh tế toàn cầu suy thoái, lạm phát? “Thời gian qua Bangladesh có nhiều đơn hàng vì họ chú trọng phát triển xanh,” ông Tùng, cũng là phó chủ tịch Vitas nhận định và so sánh, số lượng nhà máy đạt chứng nhận LEED Platinum tại đất nước Nam Á lên con số hàng trăm, trong khi Việt Nam đếm trên đầu ngón tay và chủ yếu là doanh nghiệp FDI. Ông Tùng cho biết, những tiêu chí về phát triển xanh đều nằm trong các bảng đánh giá của nhà mua hàng với các nhà máy. Nếu làm tốt việc này, tổng điểm càng cao và nhà máy càng được “rót” nhiều đơn hàng. 

Ông Tùng chia sẻ, ngành dệt may Việt Nam có rất nhiều việc phải làm để đúng với từ xanh hóa. Bản thân các doanh nghiệp muốn chuyển đổi phải cân đối được bài toán tài chính vì đây là khoản đầu tư không thấy hiệu quả ngay nhưng lập tức tác động đến con số lợi nhuận, cổ tức của cổ đông, thậm chí là giá cổ phiếu. Từ năm 2018, Bangladesh đầu tư số tiền rất lớn cho các công nghệ sản xuất xanh đáp ứng những tiêu chuẩn cao nhất. Kết quả là đến năm 2022, có khoảng 85-90% nhà máy may đạt tiêu chuẩn LEED Platinum, tiêu chuẩn sản xuất xanh cao nhất do hiệp hội các nhà đầu tư xây dựng Mỹ chứng nhận. Ngoài ra, Bangladesh còn có 500 nhà máy may khác đang chờ đợi để được đánh giá đạt tiêu chuẩn LEED. Yếu tố này cùng với việc ổn định lao động, nâng cao chất lượng, năng suất, trong khi vẫn khai thác triệt để lợi thế chi phí lao động rẻ, đồng tiền phá giá sâu trong năm 2022 đã giúp nước này duy trì được đà tăng trưởng. Trong chuyến công du Bangladesh vào hồi tháng 9 vừa qua, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã đánh giá rất cao thành quả trong hoạt động xanh hóa ngành dệt may của quốc gia này và bày tỏ mong muốn được hợp tác, học hỏi, không cạnh tranh. Tại Việt Nam, các nhà máy đạt chứng nhận LEED chủ yếu nằm ở khu vực FDI hoặc có quy mô lớn như Việt Tiến, doanh nghiệp xuất khẩu dẫn đầu ngành dệt may với doanh thu 8.000-9.000 tỉ đồng hằng năm. Khi tuân thủ theo chuẩn LEED, doanh nghiệp phải đầu tư rất lớn về mặt tài chính, nhân lực để đáp ứng các tiêu chí rất chi li như lượng khí tươi, tỉ lệ cây xanh trên một người lao động, màu sơn sử dụng để tránh áp lực tâm lý cho công nhân. Đây là một bài toán cần cân nhắc giữa khả năng tài chính và thực tế hoạt động của các nhà máy hiện tại. Bởi vì nhà máy đang tồn tại vẫn phải hoạt động, phải trả lương cho người lao động, không thể dừng lại hoàn toàn để thay thế cho đạt tiêu chuẩn LEED. Tuy nhiên, để tồn tại trong dài hạn, doanh nghiệp cần phải chuyển đổi khi sức nóng cạnh tranh và nguy cơ đào thải đã cận kề. Trên thực tế, doanh nghiệp dệt may đứng trước nhiều áp lực và động lực “xanh hóa”, tăng cường ứng dụng các giải pháp tiết kiệm nguyên liệu và tài nguyên. Xu hướng phải “xanh hóa” quy trình sản xuất theo yêu cầu từ nhà mua hàng để giữ được đơn hàng. Hiện nay, hơn 250 nhãn hàng may mặc thời trang trên thế giới đã đưa ra các tiêu chuẩn, quy tắc ứng xử có trách nhiệm với môi trường với các nhà cung cấp. Về dài hạn, 65% người tiêu dùng chuyển từ thời trang nhanh sang thời trang cơ bản và lâu bền; 67% quan tâm nhiều về tính bền vững môi trường và xã hội của các nhãn hàng thời trang. Sức ép này từ người tiêu dùng sẽ là lực đẩy để các nhãn hàng cam kết và hành động cải thiện tính bền vững trong suốt chuỗi cung ứng của họ. Bên cạnh đó, những doanh nghiệp tham gia xanh hóa và kinh tế tuần hoàn sẽ được Nhà nước hỗ trợ thị trường tiêu thụ, hỗ trợ cho vay ưu đãi... tạo môi trường làm việc tốt hơn, xanh và sạch hơn, bảo đảm sức khỏe cho người lao động và cho toàn xã hội. Ngành dệt may nằm trong số 20 ngành kinh tế đang được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn các tổ chức tín dụng đánh giá rủi ro về môi trường khi cấp tín dụng tại Sổ tay đánh giá các rủi ro môi trường và xã hội, ban hành tháng 8/2018. Vì vậy, ngành dệt may cần xây dựng chiến lược phát triển ngành theo hướng xanh hóa sản xuất, bảo vệ môi trường, đáp ứng đầy đủ tiêu chí dự án đầu tư xanh theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường, làm cơ sở tiếp cận các chính sách tín dụng xanh hiệu quả. Tóm lại, “xanh hóa” là yêu cầu bắt buộc với mỗi doanh nghiệp nói chung, trong ngành dệt may nói riêng phải thích ứng để thay đổi và đi xa hơn nữa vì một thế giới hội nhập và phát triển bền vững. *Nguồn tham khảo: Forber Vietnam/ Tạp chí ngân hàng

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Bài viết tương tự

partner logo
partner logo
partner logo
partner logo
partner logo
partner logo
partner logo
partner logo
partner logo
partner logo
partner logo
Công ty TTS Cert Vietnam Company Limited (TTS) là một đơn vị pháp lý được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam. TTS tự hào là nhà cung cấp hàng đầu dịch vụ chứng nhận tiêu chuẩn Higg FEM, FSC CoC, Sedex và Smeta và nhiều tiêu chuẩn khác.
Địa chỉ
  • Hà Nội: Tầng 9, Tòa nhà Hồ Gươm Plaza, Số 102 Đường Trần Phú, Hà Đông, Hà Nội
  • Hồ Chí Minh: Tòa nhà Goldora, đường Lê Văn Lương, phường Phước Kiển, huyện Nhà Bè
© 2021, tts-cert.vn. All rights reserved
Tải Bảng Giá